1
Vietnamese English

Trả lời thắc mắc của Doanh nghiệp

Ngày 7,9/10/2015, Ban Quản lý Khu kinh tế đã tổ chức buổi tập huấn tuyên truyền, phổ biến pháp luật năm 2015 cho người sử dụng lao động và người lao động làm việc tại doanh nghiệp trong các khu công nghiệp Đồng Xoài I, Đồng Xoài II, Bắc Đồng Phú, Minh Hưng – Hàn Quốc, Minh Hưng III, Chơn Thành I, Chơn Thành II. Qua buổi tập huấn, các doanh nghiệp đã đặt nhiều câu hỏi liên quan đến thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, tiền lương làm thêm giờ, trợ cấp thôi việc. Ban Quản lý Khu kinh tế tổng hợp một số câu hỏi được nhiều người lao động quan tâm như sau:

I/ Về việc cách tính tiền lương tháng, tiền lương làm thêm giờ, tiền lương làm việc ngày lễ đối với lao động làm theo ca

          1/ Ngày nghỉ lễ 10/3 âm lịch (28/4/2015) tôi phải đi làm, công ty không trả lương mức 300% mà chỉ bố trí nghỉ bù, vậy tôi được nghỉ bù mấy ngày?

Trả lời: 
Hiện nay, pháp luật hiện hành không quy định việc nghỉ bù khi làm thêm vào ngày nghỉ lễ mà chỉ quy định nghỉ bù ngày nghỉ hằng tuần khi trùng ngày nghỉ lễ và nghỉ bù sau khi làm thêm 7 ngày liên tục; người sử dụng lao động phải trả lương làm thêm giờ khi tổ chức làm thêm vào ngày nghỉ lễ theo đúng quy định của Điều 97 Bộ luật Lao động.
          2/ Công ty tôi khi ký hợp đồng lao động với người lao động, trên hợp đồng lao động có ghi mức lương chính và các khoản phụ cấp lương. Vậy khi tính tiền làm thêm giờ cho người lao động thì tính theo mức lương chính hay tính theo tổng thu nhập (lương chính + các khoản phụ cấp lương)?

Trả lời:

Theo quy định tại Khoản 1, Điều 90 của Bộ Luật Lao động thì tiền lương là khoản tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động để thực hiện công việc theo thỏa thuận. Tiền lương bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác. Vì vậy, tiền lương làm căn cứ để trả các chế độ cho người lao động như làm thêm giờ, tiền nghỉ phép, nghỉ lễ là tiền lương bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác.

3/ Cách tính tiền lương làm việc ngày lễ đối với lao động làm việc theo ca từ 22 giờ ngày hôm trước đến 6 giờ sáng ngày lễ, tết.

Trả lời: 

            Theo quy định tại Điều 105 Bộ luật Lao động thì giờ làm việc ban đêm được tính từ 22 giờ đến 6 giờ sáng ngày hôm sau.

Điều 115 Bộ luật Lao động quy định những ngày lễ, tết (đã được ấn định) người lao động được nghỉ làm việc và hưởng nguyên lương.

Căn cứ vào các quy định nêu trên, trường hợp người lao động đi làm vào ca làm việc có thời gian từ 22 giờ ngày hôm trước đến 6 giờ sáng ngày lễ, tết thì từ 0 giờ đến 6 giờ sáng của ngày lễ, tết người lao động được trả tiền lương thêm giờ theo quy định tại Điều 97 Bộ luật Lao động.

4/ Cách tính lương hàng tháng

Trả lời :

Theo quy định tại Điều 22 nghị định số 05/2015/NĐ-CP ngày 12/01/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật Lao động và Điều 4 Thông tư 23/2015/TT-BLĐTBXH ngày 23/06/2015 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện một số điều về tiền lương của Nghị định số 05/2015/NĐ-CP thì tiền lương theo thời gian được trả cho người lao động hưởng lương theo thời gian, căn cứ vào thời gian làm việc thực tế của người lao động theo tháng, tuần, ngày, giờ. Tiền lương tháng được trả cho một tháng làm việc xác định trên cơ sở hợp đồng lao động; Tiền lương ngày được trả cho một ngày làm việc xác định trên cơ sở tiền lương tháng chia cho số ngày làm việc bình thường trong tháng theo quy định của pháp luật mà doanh nghiệp lựa chọn. Số ngày làm việc bình thường trong tháng do người sử dụng lao động quy định nhưng phải tuân thủ các quy định về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi theo quy định của Bộ luật Lao động.

II/ Về Thời gian nghỉ phép

1/ Vì việc cá nhân, tôi có xin nghỉ không lương 03 tháng và đã được công ty chấp thuận. Vậy cho tôi hỏi trong khoảng thời gian này tôi có được 3 ngày phép năm tương ứng với số tháng tôi nghỉ việc không lương hay không?

Trả lời :

Theo điểm a, khoản 1 Điều 111 và Điều 112 Bộ Luật lao động, người lao động có đủ 12 tháng làm việc cho một người sử dụng lao động trong điều kiện bình thường, thì được nghỉ hằng năm, hưởng nguyên lương theo hợp đồng lao động 12 ngày làm việc.

Cứ 5 năm làm việc cho một người sử dụng lao động thì số ngày nghỉ hằng năm của người lao động được tăng thêm tương ứng 1 ngày.

Theo Điều 6 Nghị định số 45/2013/NĐ-CP ngày 10/5/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Bộ Luật lao động về thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi và an toàn lao động, vệ sinh lao động, thì thời gian được coi là thời gian làm việc của người lao động để tính số ngày nghỉ hằng năm (nghỉ phép) như sau:

- Thời gian học nghề, tập nghề để làm việc cho người sử dụng lao động theo cam kết trong hợp đồng học nghề, tập nghề.

- Thời gian thử việc theo hợp đồng lao động sau đó làm việc cho người sử dụng lao động.

- Thời gian nghỉ việc riêng có hưởng lương theo khoản 1, Điều 116 của Bộ Luật lao động.

- Thời gian nghỉ việc không hưởng lương nếu được người sử dụng lao động đồng ý nhưng cộng dồn không quá 1 tháng.

- Thời gian nghỉ do tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp nhưng cộng dồn không quá 6 tháng.

- Thời gian nghỉ do ốm đau nhưng cộng dồn không quá 2 tháng.

- Thời gian nghỉ hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.

- Thời gian nghỉ để hoạt động công đoàn theo quy định của pháp luật về công đoàn.

- Thời gian phải ngừng việc, nghỉ việc không do lỗi của người lao động.

- Thời gian nghỉ vì bị tạm đình chỉ công việc.

- Thời gian bị tạm giữ, tạm giam nhưng được trở lại làm việc do được cơ quan nhà nước có thẩm quyền kết luận không phạm tội.

Trường hợp người lao động đã được công ty chấp thuận cho nghỉ việc không hưởng lương 3 tháng, căn cứ quy định tại khoản 4, Điều 6 Nghị định số 45/2013/NĐ-CP thì trường hợp nghỉ việc không hưởng lương này chỉ được coi là thời gian làm việc để tính số ngày nghỉ hằng năm (nghỉ phép) tối đa không quá 1 tháng.

Theo Điều 7 Nghị định này, cách tính số ngày nghỉ phép đối với trường hợp làm không đủ năm và có thời gian được coi là làm việc như sau: Lấy số ngày nghỉ hằng năm cộng với số ngày được nghỉ tăng thêm theo thâm niên (nếu có), chia cho 12 tháng, nhân với tổng của số tháng làm việc thực tế cộng với thời gian được coi là thời gian làm việc, để tính thành số ngày được nghỉ hằng năm; kết quả phép tính lấy tròn số hàng đơn vị, nếu phần thập phân lớn hơn hoặc bằng 0,5 thì làm tròn lên 1 đơn vị.

Giả định, người lao động có thâm niên làm việc dưới 5 năm, nếu có thời gian làm việc đủ 12 tháng trong điều kiện bình thường được nghỉ 12 ngày phép; người lao động được Công ty đồng ý cho nghỉ việc không hưởng lương 3 tháng trong năm đó, thì thời gian nghỉ không hưởng lương chỉ được coi là thời gian làm việc tối đa 1 tháng. Cách tính ngày nghỉ phép như sau:

Số ngày nghỉ phép năm = 12 ngày/12 tháng x (9 tháng làm việc + 1 tháng coi là làm việc) = 10 ngày

Đề nghị người lao động tham khảo các quy định trên để đối chiếu với trường hợp cụ thể của mình.

2/ Công ty tôi có nhân viên bắt đầu làm từ tháng 02 năm 2015 và xin nghỉ phép năm 2015 là 12 ngày để về quê, đã được công ty duyệt cho nghỉ. Nhưng đến tháng 05/2015 thì xin nghỉ việc. Cho hỏi: Người lao động có phải thanh toán lại tiền nghỉ phép năm cho công ty không và cách tính như thế nào?

Trả lời : Quy định về nghỉ phép hằng năm

Điều 111 Bộ luật Lao động năm 2012 quy định người lao động được nghỉ phép:
“a) 12 ngày làm việc đối với người làm công việc trong điều kiện bình thường;
Khoản 1, Khoản 2 Điều 113 BLLĐ 2012 quy định: “1. Khi nghỉ hằng năm, người lao động được tạm ứng trước một khoản tiền ít nhất bằng tiền lương của những ngày nghỉ.
2. Tiền tàu xe và tiền lương những ngày đi đường do hai bên thoả thuận.”
Về việc thanh toán tiền lương
Pháp luật Lao động hiện hành có quy định người lao động khi không nghỉ phép năm thì được thanh toán bằng tiền những ngày chưa nghỉ theo quy định tại điều 114 Bộ luật Lao Động 2012: Thanh toán tiền lương những ngày chưa nghỉ

1. Người lao động do thôi việc, bị mất việc làm hoặc vì các lý do khác mà chưa nghỉ hằng năm hoặc chưa nghỉ hết số ngày nghỉ hằng năm thì được thanh toán bằng tiền những ngày chưa nghỉ.
2. Người lao động có dưới 12 tháng làm việc thì thời gian nghỉ hằng năm được tính theo tỷ lệ tương ứng với số thời gian làm việc. Trường hợp không nghỉ thì được thanh toán bằng tiền.
Nếu người lao động làm việc 3 tháng thì được nghỉ phép 3 ngày. Tuy nhiên, không có quy định về việc người lao động đã nghỉ hết số ngày phép theo quy định, mà sau đó chấm dứt HĐLĐ thì phải hoàn lại tiền nghỉ phép năm cho người sử dụng lao động. Vì vậy, được áp dụng theo Nội quy lao động hoặc do hai bên trong HĐLĐ tự thỏa thuận.

III/ Về trợ cấp thôi việc

Người lao động có thời gian làm việc là 6 tháng (không tính thời gian thử việc) và có thời gian nghỉ thai sản là 6 tháng. Vậy người sử dụng lao động có phả trả trợ cấp thôi việc trong 6 tháng nghỉ thai sản hay không? Thời gian nghỉ thai sản có được gọi là thời gian làm việc thực tế hay không?

Trả lời:

Điều 14 Nghị định 05/2015/NĐ-CP quy định về trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm:

1. Người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 48 của Bộ luật Lao động cho người lao động đã làm việc thường xuyên cho mình từ đủ 12 tháng trở lên khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các Khoản 1, 2, 3, 5, 6, 7, 9 Điều 36 và người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật Lao động.

2. Người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả trợ cấp mất việc làm theo quy định tại Điều 49 của Bộ luật Lao động cho người lao động đã làm việc thường xuyên cho mình từ đủ 12 tháng trở lên bị mất việc làm do thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế hoặc do sáp nhập, hợp nhất, chia, tách doanh nghiệp, hợp tác xã quy định tại Khoản 10 Điều 36, Điều 44 và Điều 45 của Bộ luật Lao động.

3. Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc. Trong đó:

a) Thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động bao gồm: thời gian người lao động đã làm việc cho người sử dụng lao động; thời gian thử việc, học nghề, tập nghề để làm việc cho người sử dụng lao động; thời gian được người sử dụng lao động cử đi học; thời gian nghỉ hưởng chế độ theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội; thời gian nghỉ hằng tuần theo Điều 110, nghỉ việc hưởng nguyên lương theo các Điều 111, Điều 112, Điều 115 và Khoản 1 Điều 116 của Bộ luật Lao động; thời gian nghỉ để hoạt động công đoàn theo quy định của pháp luật về công đoàn; thời gian phải ngừng việc, nghỉ việc không do lỗi của người lao động; thời gian nghỉ vì bị tạm đình chỉ công việc và thời gian bị tạm giữ, tạm giam nhưng được trở lại làm việc do được cơ quan nhà nước có thẩm quyền kết luận không phạm tội;

b) Thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp bao gồm: Thời gian người sử dụng lao động đã đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật và thời gian người sử dụng lao động đã chi trả cùng lúc với kỳ trả lương của người lao động một khoản tiền tương đương với mức đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật;

c) Thời gian làm việc để tính trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm của người lao động được tính theo năm (đủ 12 tháng), trường hợp có tháng lẻ thì từ đủ 01 tháng đến dưới 06 tháng được tính bằng 1/2 năm; từ đủ 06 tháng trở lên được tính bằng 01 năm làm việc.

Theo đó người lao động có thời gian nghỉ thai sản 6 tháng được gọi là thời gian làm việc thực tế tại công ty. Công ty trả trợ cấp thôi việc cho người lao động nếu đáp ứng được các điều kiện theo quy định.

Văn bản mới

Thăm dò ý kiến

Bạn đánh giá website của Ban quản lý khu kinh tế như thế nào?

Đẹp - 38.8%
Bình thường - 23.5%
Không đẹp - 30.6%
Nhiều thông tin bổ ích - 7.1%

Total votes: 85

Thống kê truy cập

1280159
Trong ngày
Hôm qua
Trong tuần
Tuần trước
Trong tháng
Thang truoc
Tổng truy cập
312
830
8546
1264142
18934
37438
1280159

chaomung60namchienthangdienbienphu

thiết kế logo

đăng ký bảo hộ thương hiệu

in nhanh băng rôn